Presentation Of Projects

Định hướng sử dung phụ phẩm cây lúa ở Tỉnh An Giang phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu

Định hướng sử dung phụ phẩm cây lúa ở Tỉnh An Giang phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu

(Nguyễn Thị Vân Hà1, Đặng Văn Thiện1 & Huỳnh Thị Ngọc Hiền2 -

 Đại Học Tài Nguyên và Môi Trường Tp. Hồ Chí Minh1, Công Ty TNHH Môi Trường, Năng Lượng Tái Tạo và Hiệu Quả Năng Lượng2)

 

1. Bối cảnh hiện nay 

Việt nam là một nước có thế mạnh về chuyên canh, chế biến và xuất khẩu lúa gạo với tổng sản lượng bình quân là 44 triệu tấn lúa trong giai đoạn 2011-2015 và đạt mức 45,2 triệu tấn lúa trong năm 2015 (GSO, 2011-2015).An Giang là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về sản xuất lúa gạo với sản lượng lúa hàng năm khoảng 4 triệu tấn, chiếm 9% tổng sản lượng lúa cả nước và đã góp phần đáng kể cùng các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu. Riêng năm 2015, sản lượng lúa của tỉnh An Giang là 4.078 triệu tấn lúa.Song song đó, ngành công nghiệp chế biến lúa gạo trên địa bàn tỉnh cũng phát triển mạnh mẽ với hàng trăm doanh nghiệp chế biến và cơ sở xay xát, thải ra lượng trấu khoảng 800.000 tấn/ năm. Đồng thời, một lượng rơm rạ khổng lồ cũng được sản sinh ra từ quá trình thu hoạch lúatương đương 2 triệu tấn/ năm.

Bảng 1: Diện tích và sản lượng trồng lúa của tỉnh An Giang so với cả nước giai đoạn 2011 – 2015

Năm

2011

2012

2013

2014

2015

Diện tích trồng lúa cả nước

(nghìn ha)

7655

7761

7902

7816

7834

Diện tích trồng lúa tại An Giang

(nghìn ha)

607

625

641

625

644

Sản lượng lúa cả nước

(nghìn tấn)

42,398

43,737

44,039

44,947

45,215

Sản lượng lúa tại tỉnh An Giang

(nghìn tấn)

3856

3941

4021

4022

4078

Tỷ trọng sản lượng lúa An Giang so với cả nước (%)

9.095%

9.011%

9.131%

8.948%

9.019%

Lượng trấu ước tính tại An Giang (nghìn tấn)

771.2

788.2

804.2

804.4

815.6

Lượng rơm rạ ước tính tại An Giang (nghìn tấn)

1821

1875

1923

1875

1932

Nguồn: GSO, 2011-2015

Từ những con số và thực trạng trên, ta có thể thấy tài nguyên sinh khối từ phụ phẩm cây lúa, cụ thể là trấu và rơm rạ tại An Giang là rất lớn.Quan trọng hơn nữa là sự cần thiết thích ứng và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này theo hướng thân thiện môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo kịch bản dự báo của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, An Giang và các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long sẽ là nơi chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu. Đó là các vấn đề: Đất đai bị bạc màu, diện tích đất bị xâm nhập mặn, khô hạn, nhiễm phèn ngày càng tăng; đa dạng sinh học giảm mạnh; nhiệt độ không khí ngày càng tăng và hạn hán bất thường, lũ lụt không theo quy luật; nhiều dịch bệnh mới hình thành,… Những dự báo này đang ngày càng đến gần và trở nên đáng báo động hơn bao giờ hết khi mà có đến 9/13 tỉnh Đồng Bằng sông Cửu Long công bố thiên tai hạn hán, xâm nhập mặn tính đến ngày 17/3/2016 với nguyên nhân chính được xác định là do hiện tượng El Nino gây hạn hán và ít mưa bão(Tổng cục thủy lợi, 2016).

An Giang đã sớm nhận thức về các tác động môi trường phát sinh từ quá trình canh tác, chế biến lúa và ảnh hưởng khôn lường của biến đổi khí hậu. Trước đây, do chưa có quy hoạch cụ thể, chưa xác định được rõ ràng các lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường trong công tác quản lý, việc sử dụng trấu và rơm rạ vào các mục đích không phù hợp như thải ra kênh rạch hay đốt đồng đã gây ra các ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đất, nước, không khí và làm lãng phí nghiêm trọng nguồn tài nguyên này. Từ năm 2012 trở lại đây, giá trị của trấu tăng đáng kể do được sử dụng để sấy lúa, bán làm nhiên liệu cho các lò gạch, lò sấy hoặc được chế biến thành nguyên liệu năng lượng như củi trấu hoặc trấu viên, tuy nhiên vẫn chưa đạt được hiệu quả cao so với tiềm năng vốn có. Cạnh đó, việc sử dụng rơm rạ cũng dần được cải thiện thông qua các mô hình sử dụng rơm tại các địa phương của tỉnh như trồng nấm rơm, ủ rơm làm thức ăn gia súc, phủ rơm trồng hoa màu, vv, tuy nhiên rơm rạ chưa thật sự được khai thác và sử dụng hiệu quả, hiện tượng đốt đồng vẫn còn phổ biến.

Để hỗ trợ công tác quản lý, kiểm soát nguồn phụ phẩm cây lúa (trấu và rơm rạ) và định hướng sử dụng nguồn tài nguyên này trong tương lai, quyết định số 241/QĐ-UBND ngày 9 tháng 2 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang về việc phê duyệt Chiến lược Quản lý và sử dụng năng lượng sinh khối từ chất thải cây lúa trong điều kiện biến đổi khí hậu tỉnh An Giang” đã xác định rõ các mục tiêu tăng trưởng xanh, giảm phát thải khí nhà kính, gia tăng sản xuất năng lượng sinh khối từ các phụ phẩm cây lúa và đưa cộng đồng đến kinh tế ít carbon và phát triển bền vững. Mục tiêu đến năm 2020 là cắt giảm phát thải nhà kính từ hoạt động sản xuất lúa, gạo là  5%  so với năm 2013, định hướng sau năm 2020, mỗi năm giảm thải thêm 1%, cụ thể như sau:

+Gia tăng sự tham gia và sự quan tâm của các thành phần xã hội,

+Gia tăng sản xuất năng lượng tái tạo,

+ Giảm phát thải khí nhà kính đến năm 2030 giảm lượng khí nhà kính là 33.601 tấn CO2/năm (huyện Châu Thành) và 300.888 tấn CO2/năm (tỉnh An Giang), thông qua các biện pháp như: thu gom và sử dụng hiệu quả rơm rạ, trấu, tăng cường diện tích áp dụng chương “1 Phải 5 Giảm”, …

+Phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và sinh thái đối vớicộng đồng sản xuất, chế biến lúa tại tỉnh An Giang.

2. Các hoạt động hợp tác của An Giang có liên quan 

An Giang là một trong bốn tỉnh nằm trong vùng lúa trọng điểm của đồng bằng sông Cửu Long được dự báo sẽ bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu như đất đai cằn cỗi, hạn hán, nhiệt độ tăng, lũ lụt bất thường, dịch bệnh trên cây. Chính vì vậy, An Giang đã có những nỗ lực đáng kể dựa trên những thế mạnh riêng và nguồn phụ phẩm dồi dào từ cây lúa để thúc đẩy sự phát triển của năng lượng xanh.Từ năm 2010, An Giang đã thành lập mối quan hệ hợp tác đối tác định hướng (PDC) rất chủ động và tích cực với Thụy Điển với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của năng lượng sinh khối và quản lý, sử dụng hiệu quả phụ phẩm cây lúa.

 

Hình 1: Sơ đồ mạng lưới liên kết của tỉnh An Giang với các đối tác Thuỵ Điển, trường đại học, trung tâm nghiên cứu và các chủ dự án về sử dụng hiệu quả phụ phẩm cây lúa và phát triển năng lượng sinh khối. Nguồn: CoEREF

2.1 Dự án "hợp tác về hiệu quả năng lượng và năng lượng tái tạo" hợp tác giữa An Giang với SEA - giai đoạn 2012-2013

Đây là hoạt động hợp tác giữa tỉnh An Giang với Cơ quan năng lượng Thụy Điển (SEA) dưới sự tài trợ của tổ chức SIDA (Thụy Điển). Được biết, tổng kinh phí của dự án là 850.000 EUR. (ODA: 650.000 EUR; vốn đối ứng là 200.000 EUR). Mục tiêu của dự án là nâng cao năng lực quản lý, lập kế hoạch kinh doanh hướng tới sử dụng có hiệu quả nguồn năng lượng và năng lượng tái tạo ở An Giang/ ĐBSCL. Dự án mong muốn khắc phục rào cản, giới thiệu cơ hội thị trường, đánh thức tiềm năng hợp tác giữa Việt Nam và các đối tác nước ngoài trong lĩnh vực năng lượng và năng lượng tái tạo... Dự án đã đạt được những mục tiêu nhất định như: Thành lập được nhóm chuyên gia ưu tú (nhóm CoE) và Ban cố vấn cho dự án; xây dựng hoàn chỉnh website http://www.coeref.org.vn nhằm giới thiệu về dự án CDM, đồng thời tiếp thị ra thị trường quốc tế... Bên cạnh đó công tác đào tạo nhân lực phục vụ dự án cũng được tổ chức chặt chẽ.

Trong giai đoạn hợp tác mở rộng, Ban quản lý dự án đã định hướng hỗ trợ phát triển Trung tâm ưu tú thành một đơn vị cung cấp dịch vụ về chuyên môn, thông tin và truyền thông nhằm thúc đẩy việc đầu tư hiệu quả năng lượng và năng lượng tái tạo ở Việt Nam; Nâng cao năng lực nhóm CoE và các chủ dự án đầu tư về lập kế hoạch kinh doanh, xây dựng năng lực đánh giá tiềm năng sử dụng sinh khối về mặt kỹ thuật - kinh tế như là một nguồn năng lượng ở Việt Nam.

2.2 Dự án "“Nâng cao năng lực xây dựng dự án năng lượng sinh học” hợp tác giữa An Giang và Vaxjo - giai đoạn 2012-2013

Đây là dự án hợp tác giữa An Giang và Thành phố Vaxjo (Thụy Điển), do Trung tâm Quốc tế về dân chủ địa phương Thụy Điển (ICLD). Tổng kinh phí 140.000 USD (ODA: 120.000 USD; vốn đối ứng 20.000 USD). Dự án được ký kết nhằm mục tiêu thiết lập Quy hoạch tổng thể phát triển tỉnh An Giang trở thành cộng đồng "xanh" nhất đồng bằng sông Cửu Long. Dự án đã tổ chức thành công nhiều hội nghị, khóa tập huấn, trao đổi kinh nghiệm tại Thụy Điển và Việt Nam về Chiến lược phát triển xanh lồng ghép với thích ứng biến đổi khí hậu, công tác quản lý môi trường, năng lượng tái tạo cho cán bộ Sở ngành, doanh nghiệp. Giai đoạn tiếp theo, dựántập trung vào vấn đề quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố Long Xuyên. Dự án hy vọng sẽ xây dựng thành công hệ thống quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố, tiến tới làm mô hình nhân rộng cho toàn tỉnh An Giang. Trong đó, đặt trọng tâm vào các hoạt động chính như: đẩy mạnh công tác truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng; xây dựng kế hoạch hành động, mô hình thí điểm, đoạn đường mẫu, khu xử lý chất thải rắn...

2.3 Dự án "An Giang và Pitea - Cộng đồng phát triển bền vững" - giai đoạn 2012-2014

Dự án được tài trở bởi Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế của Thụy Điển (SIDA). Tổng kinh phí thực hiện là 288.000 USD. Mục tiêu của dự án nhằm nâng cao tính bền vững của chương trình biến chất thải thành năng lượng, an toàn, hiệu quả kinh tế, thân thiện với môi trường và sức khỏe con người. Định hướng tương lai của dự án là nhằm nâng cao nhận thức của người dân 2 tỉnh An Giang - Piteå về môi trường và năng lượng. Tiến xa hơn, chương trình sẽ phát triển một chiến lược lâu dài ứng phó với biến đổi khí hậu và vấn đề năng lượng tái tạo. Đồng thời, dự án mong muốn huy động sự tham gia của nhiều thành phần từ nhà nước, doanh nghiệp đến người dân trong cộng đồng.

Kế hoạch thực hiện dự án "An Giang và Piteå - Cộng đồng bền vững" được UBND tỉnh An Giang phê duyệt tại quyết định số 734/QĐ-UBND ngày 22/4/2013. Đến nay, dự án đã thực hiện xong phần việc như sau: Báo cáo thử nghiệm rơm rạ, vỏ trấu, gạo và kiểm tra xác nhận từ ETC về phân tích tiềm năng nguồn trấu; Tổ chức tập huấn và điều tra ở 13 xã thuộc huyện Châu Thành (từ ngày 5 đến 12/7/2013). Đã tiến hành phỏng vấn 580 hộ nông dân, chủ cơ sở xây xát, cán bộ quản lý địa phương để thu thập dữ liệu GIS. Dự án cũng đã tổ chức các chuyến công tác và làm việc giữa 2 bên. Theo kế hoạch, dự án sẽ tiếp tục xây dựng và hoàn chỉnh cơ sở dự liệu GIS và WebGIS; xây dựng đề cương kế hoạch biến chất thải thành năng lượng.

2.4 Dự án “Nâng cao năng lực và xây dựng đề án định hướng phát  triển mô hình nhà máy đồng phát điện - nhiệt từ trấu ở quy mô kết hợp nhà mát xây xát lúa tỉnh An Giang” hợp tác giữa An Giang với Viện năng lượng Thụy Điển (SEA) - giai đoạn 2014-2015

Đây là dự án do Cơ quan Năng lượng Thụy Điển (Swedish Agency – SEA) tài trợ với nguồn vốn ODA không hoàn lại. Đơn vị chủ quản dự án là Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang. Sở Tài nguyên và Môi trường An Giang đề xuất và làm chủ dự án. Giai đoạn chuyển tiếp “Nâng cao năng lực xây dựng đề án định hướng phát triển mô hình nhà máy đồng phát điện – nhiệt từ trấu ở quy mô kết hợp nhà máy xay xát lúa tỉnh An Giang” có những mục tiêu tổng quát đó là xây dựng cơ sở khoa học về kỹ thuật và tài chính, xây dựng nguồn nhân lực KHKT phục vụ khai thác và phát triển năng lượng sinh khối từ phụ phẩm cây lúa ở An Giang. Đồng thời khảo sát hiện trạng, nhu cầu năng lượng của các nhà máy xay xát, sấy lúa điển hình trên địa bàn tỉnh An Giang. 

Song song với đó là đánh giá về thực trạng thị trường, cung cấp công nghệ... nhằm đề xuât mô hình nhà máy đồng phát điện – nhiệt từ trấu kết hợp chế biến lúa. Mặt khác, đây cũng được xem là giai đoạn chuẩn bị nguồn nhân lực và thông tin cho giai đoạn mở rộng của dự án (2015-2018). Trong đó, hướng tới mục tiêu chiến lược mở rộng phạm vi hoạt độn của CoE và nhân rộng dự án sinh khối ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á.

Nhìn chung sau một năm thực hiện, giai đoạn chuyển tiếp của dự án đã đạt được những kết quả chủ yếu trên 3 nội dung lớn:  
+ Thứ nhất, về đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, dự án đã hoàn chỉnh toàn bộ bài giảng và phần mềm phân tích tài chính cho dự án đồng phát điện – nhiệt sinh khối; 25 học viên được đào tạo và cấp chứng chỉ; 08 kế hoạch kinh doanh được vạch ra cho dự án điện sinh khối; xác lập 25 thành viên tham gia nhóm CoE. 
+ Thứ hai, về mô hình phát triển, đã hoàn thiện cơ sở dữ liệu GIS về nhà máy xay xát và nhu cầu điện sinh khối. Có 04 trường hợp nghiên cứu điển hình, 01 mô hình kinh doanh sẵn sàng cho kêu gọi đầu tư; 01 đề án định hướng mô hình nhà máy với quy mô kết hợp giữa điện- nhiệt trấu với xay xát lúa. 
+ Thứ ba, Về hoạt động của nhóm CoE, đã xây dựng hoàn thành kế hoạch kinh doanh giai đoạn 5 năm với hàng loạt giá trị đóng góp về công nghệ, kỹ thuật tài chính, khoa học, môi trường, nâng cao giá trị cây lúa và thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương.

2.5 Dự án "Kế hoạch hành động tận dụng chất thải từ cây lúa" hợp tác giữa An Giang và Pitea - giai đoạn 2015-2017 

Đây là dự án nhằm đưa An Giang trở thành địa phương tiên tiến trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tái tạo với những cộng đồng sản xuất lúa xanh và nền nông nghiệp phát triển bền vững. Tập trung nâng cao nhận thức về tiềm năng năng lượng sinh khối; triển khai thực hiện các chương trình trình diễn hỗ trợ người dân; hoàn chỉnh kế hoạch hành động. Đặc biệt, trong năm 2015, chiến lược sử dụng chất thải từ cây lúa đã được Ban Giám sát dự án, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang cụ thể hóa thành những đầu công việc chính như sau: Xây dựng đề cương dự án và trình Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ Tài nguyên & Môi trường, Bộ Tài chính góp ý và UBND tỉnh An Giang phê duyệt; thảo luận trực tuyến giữa các thành viên dự án; đoàn công tác Piteå, An Giang qua lại 2 nước để thảo luận và làm việc; tuyên truyền nâng cao ý thức và hiểu biết về dự án cho nhân dân thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; tổ chức hội thảo tại huyện Châu Thành; đưa chuyên gia Việt Nam sang Thụy Điển để tập huấn; tổ chức các buổi trình diễn hỗ trợ kỹ thuật cho người dân, doanh nghiệp.

2.6 Dự án "Nâng cao năng lực thực hành quản lý chất thải rắn ở thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang"hợp tác giữa An Giang và Vaxjo - giai đoạn 2015-2017 

Đây là dự án nhằm xây dựng đề cương dự án quản lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố Long Xuyên (TPLX) tập trung vào các nội dung (1) Quản lý dự án, (2) Xây dựng kế hoạch hành động quản lý chất thải rắn của TPLX, (3) Nghiên cứu môi trường cho bãi rác mới của TPLX, và (4) Truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý chất thải rắn.

Kết quả của hợp phần 1 là một dự án được chuẩn bị tốt và có cấu trúc rõ ràng để đảm bảo việc quản lý và chuyển giao dự án được thành công, còn của hợp phần 2 là một kế hoạch hành động hoàn chỉnh để trình UBND tỉnh phê duyệt. Trong hợp phần 3, các sinh viên từ trường đại học Linnaeus ở Växjö sẽ sang tìm hiểu, điều tra về tác động môi trường của bãi rác mới (đã quy hoạch) và hệ thống thu gom rác của TPLX, làm cơ sở để tìm thêm cơ hội xin các dự án tài trợ khác, ví dụ từ UNDP. Trong hợp phần 4, nhóm cán bộ thực hiện dự án của An Giang sẽ cùng các chuyên gia phía Växjö xây dựng tài liệu truyền thông và sẽ được tập huấn phương pháp và kỹ năng truyền thông để tập huấn lại cho cán bộ ở 2 xã/phường thí điểm của TPLX.

3. Định hướng sử dung trấu và rơm rạ

3.1 Mục tiêu cụ thể:

Dựa trên tổng thể thực hiện theo tầm nhìn chung của Việt Nam về các mục tiêu để giảm phát thải khí nhà kính như xanh hóa tiêu dùng, thay thế dần nhiên liệu sinh học, giảm sử dụng năng lượng lãng phí trong gia đình, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp; trước mắt trong giai đoạn 2011-2020, tỉnh An Giang đặt ra mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính từ 4-8% so với năm 2013 và định hướng đến năm 2030 giảm mức phát thải nhà kính mỗi năm ít nhất 1% - 2%. Đối với cây lúa sẽ giảm phát thải nhà kính từ 5% vào năm 2020 so với năm 2013 và định hướng đến năm 2030 giảm mức phát thải nhà kính mỗi năm ít nhất 1%. Từ việc thu gom rơm, hạn chế sử dụng phân bón thuốc bảo vệ thực vật (phòng ngừa và tiêu diệt sâu bệnh bằng các biện pháp thay thế khác), tái sử dụng rơm, trấu hiệu quả (phát điện nhiệt, pellets, các sản phẩm khác từ rơm trấu...), tiết kiệm năng lượng trong sản xuất chế biến lúa gạo.

Các mục tiêu cụ thể như sau:

      * Mục tiêu phát triển kinh tế:

- Phát triển kinh tế địa phương và khu vực thông qua việc tăng thu nhập nông dân và doanh nghiệp từ tăng chuỗi giá trị lúa gạo;

- Giảm áp lực và chi phí cho các nhà quản lý môi trường trong việc xử lý chất thải từ cây lúa trong thời gian tới;

- Đưa nền nông nghiệp trồng lúa ở tỉnh An Giang tiếp cận và áp dụng công nghệ cao;

      *Mục tiêu cụ thể đối với nông dân:

- Cải thiện đời sống nông dân từ việc tận dụng các chất thải của cây lúa;

- Nâng cao chất lượng cuộc sống và nhận thức củangười dân trong khu vực canh tác lúa do việc thực hiện các các biện pháp giảm ô nhiễm môi trường trong canh tác lúa và tái sử dụng chất thải cây lúa thành năng lượng;

- Giảm bệnh tật, bảo vệ sức khỏe từ việc giảm ô nhiễm vùng trồng lúa;

- Được tham gia chương trình bảo vệ môi trường, giảm phát thải nhà kính từ hoạt động canh tác lúa;

- Được đóng góp vào sự phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững của tỉnh;

      *Mục tiêu cụ thể đối với Doanh nghiệp chế biến lúa gạo:

- Gia tăng lợi nhuận trong chế biến sản xuất lúa gạo;

- Tiếp cận công nghệ mới về tái chế chất thải nông nghiệp thành năng lượng và các sản phẩm khác;

- Đóng góp, bổ sung nguồn năng lượng sạch 70 MW cho tỉnh An Giang và quốc gia đến năm 2030;

- Được nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường từ chính hoạt động cắt giảm phát thải khí nhà kính và tiết kiệm năng lượng từ hoạt động sản xuất lúa gạo;

3.2 Các chương trình của kế hoạch chiến lược:

Để triển khai hiệu quả Chiến lược Quản lý và sử dụng năng lượng sinh khối từ chất thải cây lúa trong điều kiện biến đổi khí hậu tỉnh An Giang, 5 chương trình sau đây sẽ được triển khai thực hiện bao gồm:

1. Chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng nông dân, doanh nghiệp, cán bộ về lợi ích của phụ phẩm từ cây lúa và vai trò của điện trấu và bồi dưỡng kiến thức, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về phát triển điện sinh khối;

2. Chương trình phát triển cụm công nghiệp sinh thái lúa gạo và khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất xanh, phát triển các sản phẩm xanh từ chất thải cây lúa;

3. Chương trình tư vấn kết nối các nhà đầu tư tài chính, ngân hàng với doanh nghiệp, nông dân trong việc hỗ trợ vốn vay, vốn hỗ trợ xây dựng các dự án biến chất thải thành năng lượng và các sản phẩm xanh; Hỗ trợ vốn trong và ngoài nước cho phát triển điện sinh khối

4. Chương trình nghiên cứu khoa học về các chính sách hỗ trợ phát triển nguồn năng lượng sinh khối và các sản phẩm xanh từ phụ phẩm cây lúa; nghiên cứu kỹ thuật sản xuất điện, biofuel, silica, vật liệu lọc, vật liệu cách nhiệt…phân bón, thức ăn chăn nuôi

5. Chương trình hợp tác quốc tế nâng cao năng lượng quản lí chất thải nông nghiệp, áp dụng tiến bộ công nghệ thế giới vào công nghệ biến chất thải thành năng lượng An Giang, Việt Nam

Mục tiêu và lộ trình thực hiện Chiến lược gồm 2 giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 1: Từ năm 2015 đến năm 2020:

Mục tiêu

Châu Thành

An Giang

Diện tích thu gom rơm rạ ra khỏi đồng ruộng

40%

20%

Diện tích áp dụng trồng lúa Ứng dụng công nghệ cao có lồng ghép phương pháp ”1 Phải 5 Giảm” _bao gồm giảm phân bón và thuốc BVTV

5090 ha

 

80257 ha

 

Tỉ lệ trấu thu gom sản xuất điện trấu

50%

30%

Tỉ lệ rơm rạ thu gom để sản xuất năng lượng

0%

0%

Lượng CO2 cắt giảm tương ứng (tấn/năm)

21848

105305

 

- Giai đoạn 2: Từ năm 2020 đến năm 2030:

Mục tiêu

Châu Thành

An Giang

Diện tích thu gom rơm rạ ra khỏi đồng ruộng

60%

40%

Diện tích áp dụng trồng lúa Ứng dụng công nghệ cao có lồng ghép phương pháp ”1 Phải 5 Giảm” _bao gồm giảm phân bón và thuốc BVTV

5090 ha

101440 ha

Tỉ lệ trấu thu gom sản xuất điện trấu

75%

50%

Tỉ lệ rơm rạ thu gom để sản xuất năng lượng

30%

15%

Lượng CO2 cắt giảm tương ứng (tấn/năm)

33601

300888

Ở các giai đoạn có chương trình đánh giá hiệu quả thực hiện 2 năm/lần. Trong đó, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ động phối hợp với các Sở ban ngành chuyên môn để đánh giá tính hiệu quả của các lĩnh vực chuyên môn trong Chiến lược (ví dụ: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá hiệu quả giảm phân thuốc, thu gom rơm rạ trên đồng, Sở Tài nguyên và Môi trường đánh giá về lượng CO2 cắt giảm, Sở Công Thương đánh giá quy hoạch, khả năng xây dựng và sử dụng điện sinh khối,…).

3.3 Các giải pháp thực hiện:

* Giải pháp chính sách:

+Về phía cấp Bộ, Bộ Công Thương cần xây dựng và hỗ trợ phát triển điện sinh khối theo Quyết định số  24/2014/QĐ-TTg ban hành ngày 24 tháng 03 năm 2014 về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án điện sinh khối Việt Nam;

+Về phía tỉnh, An Giang cần nhanh chóng hoàn thiện nội dung của bản quy hoạch năng lượng sinh học đến năm 2020, lập hồ sơ trình Bộ Công Thương xem xét và phê chuẩn để quy hoạch này trở thành văn bản có tính pháp lý định hướng cho sự phát triển năng lượng sinh học cũng như năng lượng tái tạo ở tỉnh An Giang;

+Tiếp tục đề xuất các cơ chế chính sách phù hợp hơn để nhanh chóng thực hiện các dự án về điện sinh khối cũng như các sản phẩm xanh tại An Giang (cơ chế vốn tín dụng, thuế, đất, bán điện hoặc các sản phẩm xanh từ phụ phẩm nông nghiệp, trợ giá điện nối lưới);

* Giải pháp quy hoạch:

+Xây dựng quy hoạch năng lượng sinh khối chung của tỉnh An Giang từ các phụ phẩm nông nghiệp (các cây trồng khác, chất thải chăn nuôi);

+Xây dựng quy hoạch chi tiết về phát triển điện sinh khối quy mô dưới 10MW, tự sử dụng và bán điện một phần cho các nhà máy chế biến nông sản, cụm công nghiệp sinh thái lúa gạo;

+Quy hoạch cánh đồng lớn áp dụng các chương trình giảm phát thải nhà kinh;

*Giải pháp giáo dục, tuyên truyền:

+Nhân lực chính là yếu tố then chốt để đưa quy hoạch thực hiện một cách hiệu quả nhất. Chính vì vậy, cần liên kết với các tổ chức đào tạo trong và ngoài nước huấn luyện, đào tạo nâng cao về: Quản lý dự án, chuyển giao công nghệ, phát triển năng lượng sinh khối bền vững,…cho các cán bộ chủ chốt các cấp. Các đơn vị đào tạo như: Đại học An Giang, Đại học Cần Thơ, Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. HCM,… Ngoài ra, cần tổ chức các buổi hội thảo lấy ý kiến góp ý, điều chỉnh quy hoạch khi cần thiết;

 +Đối với nông dân, nên kết hợp với Trung tâm Khuyến nông tổ chức các khóa huấn luyện ngắn hạn, giới thiệu mô hình kết hợp sản xuất nông nghiệp với sản xuất năng lượng sinh khối;

* Giải pháp công nghệ, kỹ thuật:           

Với trình độ phát triển khoa học phát triển như hiện nay, sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn cho các nhà quản lý.  Tiêu chí để lựa chọn công nghệ bao gồm:

+ Hiệu quả sản xuất cao;

+ Chi phí đầu tư, chi phí vận hành hợp lý;

+ Công nghệ hiện đại, đón đầu xu hướng;

+ Phù hợp với điều kiện, đặc điểm của địa phương;

4. Phát triển các mô hình phát điện nhiệt đồng hành từ trấu

Phát triển các mô hình phát điện nhiệt đồng hành từ trấu là một trong những hoạt động then chốt để phục vụ cho chương trình 2 “Phát triển cụm công nghiệp sinh thái lúa gạo và khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất xanh, phát triển các sản phẩm xanh từ chất thải cây lúa” nằm trong khuôn khổ "Chiến lược quản lý và sử dụng năng lượng sinh khối từ chất thải cây lúa trong điều kiện biến đổi khí hậu tỉnh An Giang” với mục tiêu gia tăng sản xuất năng lượng tái tạo, giảm khí thải nhà kính.

Việc tiêu thụ năng lượng rõ ràng đã tăng mạnh ở Việt Nam trong những năm gần đây. Từ góc độ môi trường, quá trình đốt cháy một lượng nhiên liệu hóa thạch khổng lồ được coi là nguyên nhân chính dẫn đến biến đổi khí hậu, gây ra những hậu quả sâu sắc đến hành tinh của chúng ta. Giải pháp cho tình trạng này cân nhắc hai lựa chọn như sau: thực hiện các biện pháp tiết kiệm năng lượng và sử dụng công nghệ hiện đại để giảm việc tiêu thụ năng lượng sơ cấp, và mặt khác, khuyến khích sự phát triển của các nguồn năng lượng thay thế có sẵn tại địa phương có mức phát thải carbon thấp để thay thế dần nhiên liệu hóa thạch. Tổng lượng trấu tại tỉnh An Giang là khoảng 844.200 tấn / năm. Lượng trấu này hiện đang được sử dụng làm nhiên liệu đốt cho các lò gạch, lò hơi, sấy lúa, nguyên liệu để sản xuất trấu viên hoặc củi trấu. Hiện tại, có hơn 404 nhà máy chế biến lúa gạo tại tỉnh An Giang, những nhà máy này tiêu thụ một lượng lớn điện từ lưới điện quốc gia.

Trong bối cảnh đó, chính quyền địa phương tỉnh An Giang đã xác định rằng các dự án năng lượng sinh học sử dụng chất thải hoặc sinh khối để sản xuất năng lượng ở quy mô nhỏ là ưu tiên hàng đầu. Dự án này nhằm mục đích nâng cao năng lực và lập kế hoạch để định hướng cho sự phát triển của nhà máy đồng phát điện nhiệt sử dụng vỏ trấu làm nguyên liệu tại các nhà máy xay xát gạo tại tỉnh An Giang.

              Dựa trên nhu cầu tiêu thụ điện và nhiệt cũng như quy mô của các nhà máy xay xát, chế biến lúa gạo trên địa bàn tỉnh An Giang, mô hình nhà máy đồng phát nhiệt điện quy mô 1- 3MW sử dụng trấu làm nhiên liệu là rất phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cao và đáp ứng tốt các yêu cầu về kĩ thuật. Hệ thống đồng phát nhiệt – điện (CHP) là công nghệ vừa sản xuất điện, vừa sản xuất nhiệt kết hợp với hiệu suất sử dụng năng lượng rất cao, có thể lên tới 70-80%. Công nghệ này thường có công suất cỡ nhỏ và cỡ trung từ 200 kW(e) đến 3000 kW(e). Sự ra đời của nhà máy đồng phát nhiệt điện đốt trấu là bước khởi đầu quan trọng trong việc phát triển năng lượng sinh khối và giảm khí thải nhà kính.

              Việc đầu tư vào các nhà máy CHP sử dụng trấu làm nhiên liệu đòi hỏi phải có thêm thông tin về các công nghệ phù hợp, chi phí đầu tư cũng như chi phí vận hành; đặc biệt, tiềm năng để sản xuất silica từ tro để tăng thêm giá trị và giảm thiểu chi phí của ngành công nghiệp lúa gạo. Nhà máy CHP (Đồng phát nhiệt và điện) là một hệ thống hoàn chỉnh, được tiếp nhiên liệu bởi khả năng chuyển đổi sinh khối gỗ, vỏ trấu, vỏ cây hoặc các nhiên liệu sinh khối tương tự thành điện và nhiệt. Hiện tại, có hai loại công nghệ phổ biến nhất đối với nhà máy đồng phát điện- nhiệt từ vỏ trấu bao gồm: công nghệ khí hóa và công nghệ lò hơi tầng sôi.

Công nghệ khí hóa (VVSP): Nhiên liệu rắn được khí hóa, tro được tách ra và tạp chất bị loại bỏ tạo thành một luồng khí sạch đủ để chạy một động cơ khí và máy phát điện. Hệ thống này được thiết kế như một vòng khép kín và không để lại dư lượng khác ngoài tro. Toàn bộ hệ thống được hoàn toàn tự động hóa và được thiết kế để điều khiển từ xa và vận hành liên tục. Nhà máy CHP cung cấp một quy trình sản xuất điện tái tạo với hiệu quả kinh tế cao, tiết kiệm chi phí và dựa trên nguồn nguyên liệu từ trấu thải tại nhà máy xay xát.

 

Hình 2: Sơ đồ công nghệ khí hóa (Nguồn: Nhà cung cấp Meva)

            Công nghệ lò hơi-tầng sôi: Hệ thống lò thông hơi đốt trấu kiểu tầng sôi, tua bin ngưng hơi và phát điện được cấu thành từ 6 bộ phận: nồi hơi và lò đốt, tua bin hơi, máy phát điện, thiết bị trao đổi nhiệt, máy sấy tầng sôi và máy sấy tháp. Bên cạnh đó là những hệ thống, thiết bị phụ trợ như: Hệ thống xử lý và cung cấp trấu vào lò hơi; bốc dỡ và bồn lưu trữ trấu (nếu có lắp đặt lò hơi dự phòng); cung cấp dầu vào lò hơi dự phòng; chuyển tải và đóng bao tro trấu; bồn khử (deaerator); bể chứa nước, xử lý nước, hệ thống nước làm mát bình ngưng; thiết bị đo lường và điều khiển; trạm biến thế và hệ thống đấu nối với lưới điện; đường ống, hệ thống phòng cháy chữa cháy…Công nghệ lò hơi tầng sôi là loại lò đốt trực tiếp hiệu quả nhất hiện nay. Nó được sử dụng cho hầu hết các loại nhiên liệu khác nhau, đặc biệt loại nhiên liệu có giá trị nhiệt thấp và hàm lượng ẩm cao.

 

Hình 3: Sơ đồ công nghệ lò hơi-tầng sôi (Nguồn: Nhà cung cấp Vyncke & KKK)

Theo đánh giá chung, công nghệ lò hơi tầng sôi thích hợp hơn đối với việc đầu tư nhà máy điện có công suất trên vài MWtrong khi công nghệ khí hóa hoạt động tối ưu nhất đối với các nhà máy có công suất dưới 500 kW. Tuy nhiên, ở tầm trung từ vài trăm kW đến vài MW thì cả hai loại này đều có thể được xem xét như một giải pháp tốt. Công nghệ khí hóa không giống như công nghệ lò hơi – tầng sôi phụ thuộc vào hệ thống làm mát đặc biệt để cho phép phát điện độc lập trong suốt quá trình tải nhiệt.Đây có thể là một lợi thế của công nghệ khí hóa khi mà quá trình tải nhiệt thay đổi đáng kể trong suốt thời gian hoạt động của nhà máy xay xát.

Để giúp các doanh nghiệp lúa gạo tại địa phương tiếp cận các vấn đề về kinh tế, kĩ thuật, nguồn vốn và phát triển các dự án các nhà máy đồng phát nhiệt điện sử dụng trấu ngay tại nhà máy làm nhiên liệu, tỉnh An Giang đã phối hợp cùng công ty ENSI, CoEREF, PMU để tố chức tập huấn kĩ thuật tài chính và năng cao năng lực cho doanh nghiệp địa phương, cán bộ quản lí nhà nước và nhóm CoE trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và sử dụng hiệu quả năng lượng. Thành quả là có tất cả 18 kế hoạch kinh doanh được phát triển trong 2 khoá đào tạo phân tích tài chính (FE). Khoá 1 (FE1) được tổ chức trong giai đoạn 2012-2013 và khoá 2 (FE2) được tổ chức trong giai đoạn 2014-2015.

Bảng 2. Danh sách 10 kế hoạch kinh doanh của Khoá đào tạo Kĩ Thuật Tài Chính FE1

STT

Tên dự án

Chủ dự án

Chi phí ước tính

1

NHÀ MÁY ĐỒNG PHÁT NHIỆT ĐIỆN QUY MÔ NHỎ TỪ TRẤU

 Công ty TNHH Thương mại – Xây dựng - Sản xuất Hoàng Hà

288.35 tỷ VND

2

DỰ ÁN XÂY DỰNG HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI THỦY SẢN THU HỒI KHÍ BIOGAS THEO CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH CDM TẠI NHÀ MÁY THUẬN AN 1

Công ty TNHH SX-TM-DV Hoài Nam Hoài Bắc

20.5 tỷ VND

3

SẢN XUẤT VIÊN NÉN GỖ TỪ GỖ VỤN NHƯ NGUỒN CUNG CẤP NHIÊN LIỆU XANH SẠCH

Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Tái tạo rừng VINA  

48.75 tỷ VND

4

TRỒNG RỪNG SẢN XUẤT GỖ VÀ VIÊN NÉN GỖ

Công ty TNHH Đầu tư Thương mại Tái tạo rừng VINA       

104,601 tỷ VND

5

THU HỒI BIOGAS PHÁT ĐIỆN VÀ SẢN XUẤT PHÂN BÓN TỪ XỬ LÍ RÁC

Công ty TNHH Một thành viên môi trường đô thị An Giang

112.119 tỷ VND

6

THU HỒI KHÍ SINH HỌC CUNG CẤP CHẤT ĐỐT VÀ PHÁT ĐIỆN CHO TRẠI CHĂN NUÔI HEO VĨNH KHÁNH


Trại Chăn nuôi Vĩnh Khánh – Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Nông sản thực phẩm An Giang (AFIEX)

 

740 triệu VND

7

SẢN XUẤT TRẤU VIÊN

Công ty gạo An Việt

67.5 tỷ VND

8

SẢN XUẤT VÁN SÀN TỪ TRE

Công ty TNHH XD-TM Tạ Trương An Giang

89.1 tỷVND

9

SẢN XUẤT VIÊN NÉN GỖ TỪ TRE VÀ VỎ TRẤU

Công ty TNHH XD-TM Tạ Trương An Giang

105.1 tỷ VND

10

TRỒNG TRE NGUYÊN LIỆU Ở VÙNG BẢY NÚI, AN GIANG

Công ty TNHH XD-TM Tạ Trương An Giang

91    Tỷ VND

 

Bảng 3. Danh sách 8 kế hoạch kinh doanh của khoá FE 2

STT

Tên dự án

Chủ dự án

Chi phí ước tính

1

Nhà máy sản xuất củi trấu Tây Phú

Cty cổ phần du lịch An Giang

350,000 USD

2

Sản xuất củi trấu tại công ty Phát Thành Lợi

Cty cơ khí An Giang

700,000 USD

3

Phát điện từ trấu cho nhà máy xay xát tại DNTN Phước Thành

DNTN Phước Thành

1,250,000 USD

4

Nhà máy đồng phát nhiệt điện 1MW tại xí nghiệp Châu Phú 

Cty Lương Thực – Thực Phẩm An Giang

2,500,000 VND

5

Nhà máy đồng phát nhiệt điện 1MW

Cty TNHH SX-TM-DV Tuyền Phát

2,440,553 USD

6

Phát điện sinh khối từ sản xuất củi trấu

 

Công ty Thành Đạt

500,000 USD

7

Nhà máy đồng phát nhiệt điện 1MW

Công ty gạo An Việt

2,150,476 USD

8

Sản xuất trấu viên với công suất 3,000 tấn mỗi tháng

Công ty gạo An Việt

 

 

Trong số 18 kế hoạch kinh doanh hoàn chỉnh, 5 kế hoạch kinh doanh dưới đây được phát triển và tiếp cận nguồn vốn trong và ngoài nước.

 

Other Presentation Of Projects